Charlie Bone và cậu bé vô hình (Tập 3)

SỰ TRỞ VỀ CỦA ÔNG CẬU PATON
Sáng hôm sau, Charlie nghĩ mình là đứa cuối cùng xuống ăn sáng, nhưng khi đang vội vàng đi qua những bức chân dung, nó nghe có tiếng ai đó nặng nề bước đằng sau. Nó quay lại và thấy Emma, mặt tái nhợt và mắt thiếu ngủ. Trong khi Charlie chờ con bé đuổi kịp mình, một người nữa xuất hiện. Đó là Olivia. Còn ai mà mang giày vàng chóe với vớ đen nữa? Đó là một trong những mốt quần áo quái chiêu mà bọn khoa kịch không hiểu sao lại rất ưa chuộng.
Olivia đang lăn đi trong tư thế lệch hẳn qua một bên, rất lạ. Con bé giơ một bàn chân trong chiếc giày vàng lên.
“Của mẹ tớ đó. Hy vọng mẹ không nổi tam bành lên.”
Emma ngó xăm xoi chiếc giày và ngáp.
“Tối qua bồ xoay xở thế nào?” Charlie hỏi.
Emma nhăn mặt. “Không sao kiếm được cửa sổ phòng Ollie. Tất cả cửa nào cũng giống cửa nào. Mình làm rớt tờ giấy rồi.”
“Tờ giấy nào?” Olivia hỏi. “Đằng ấy có hé răng về mẩu giấy nào đâu.”
“Mình mang đi để đưa cho Ollie. Nhưng tất cả các cửa sổ gác mái đều đóng.”
“Mang nó ở trong…?”
Charlie tính nói là “mỏ” nhưng không nói ra được.
“Miệng,” Emma đáp, thảy cho nó một cái nhìn thật tức cười.
“Bồ có kiếm ra cửa sổ phía trên phòng điêu khắc không? Charlie nói khẽ.
“Cuối cùng cũng kiếm ra được. Cám ơn nhé.” Emma lại ngáp cái nữa.
“Đó là nhờ anh Tancred.”
Chúng đã tới nhà ăn lớn, ở đây chúng phải tách ra, mỗi đứa đi về phía bàn ăn của khoe mình. Charlie nhận thấy Emma phải ngồi sát bên Belle. Nó thấy lo lắng cho bạn. Giả sử ai đó kiếm ra tờ giấy Emma viết thì sao? Nếu gia đình Bloor biết Emma đang cố tìm cách cứu Ollie, thì ai mà biết họ có thể sẽ làm gì.
Mình mừng là nó biết bay, Charlie nghĩ.
Ngồi kế bên, Fidelio vừa làm xong muỗng cháo yến mạch cuối cùng của nó.
“Chắc chắn là có việc xảy ra mà anh cần phải biết, Charlie,” nó nói. “m nhạc chiếm hết cuộc sống của anh rồi, nhưng anh vẫn muốn biết việc gì xảy ra với tất cả mọi người.”
“Chủ nhật này anh tới quán Cà Phê Thú Kiểng đi,” Charlie nói. “Tất cả đều sẽ tới đó. Có khi còn có cả anh Tancred và Lysander nữa.”
Nó nhận thấy Billy đang dòm nó từ phía bàn đối diện.
“Và cả Billy,” nó thêm.
“Billy?” Fidelio hạ thấp giọng. “Vậy có khôn ngoan không?”
Charlie nhún vai. “Em nghĩ nó đang đổi chiều, anh hiểu em nói gì rồi đó.”
“Ừm” Fidelio nói.
Giờ nghỉ giải lao đầu tiên, trong khi những đứa khác đang tập tành cho vở kịch, Charlie giúp Emma kiếm mẩu giấy mà con bé đã làm rớt. Charlie vừa mới hé nhìn vô bụi cây bên cạnh cửa vườn thì Belle và Dorcas bước lại gần.
“Tôi không biết là bạn quan tâm đến nghề làm vườn đấy, Charlie,” Belle lên tiếng.
“Nghề gì?” Charlie hỏi.

“Thôi bỏ. Bạn đang kiếm gì đó?”
“Không kiếm gì cả.”
Charlie đút hai tay vô túi quần và bước đi khỏi. Nó nhóng tìm Tancred và Lysander nhưng chẳng thấy hai anh đâu. Có lẽ Lysander tranh thủ đẽo tượng. Cả Billy cũng biệt dạng, nhưng thằng bé còn có con chuột đen để cho ăn và vỗ về.
Một vài phút trước khi hết giờ giải lao, Charlie gặp Emma. Con bé vẫn chưa kiếm ra tờ giấy.
“ Mình chắc là nó đã bay vô trong cái sân gạch rồi,” Emma nói.
Đây là tin xấu. Không đứa trẻ nào có thể ra ngoài đó được, một khi cổng chính đã đóng lại sáng thứ Hai.
“Mẩu giấy ghi cái gì vậy?” Charlie hỏi.
Emma cắn môi:
“Đừng mất hy vọng, Ollie. Chúng tôi không quên bạn đâu. E.”
“E? Chỉ E thôi à? Charlie nói. “Vậy thì có gì đáng lo đâu?”
“E tức là Emma,” Emma rầu rĩ. “Họ sẽ biết cho coi.”
“Thôi thì mình cứ hy vọng là họ không kiếm ra nó,” Charlie nói.
Tiết học tiếp theo của Charlie là tiết lịch sử, và như thường lệ, nó thấy khó mà tập trung được. Hên mà thầy Pope không hỏi nó câu nào. Xem ra thầy đã hết đường trông cậy vô nó – mà như vậy cũng được, bởi vì cùng một lúc nó còn phải vật lộn với nhiều vấn đề khác, và không có cái nào trong số đó liên quan tới Napoleon.
Vậy thì, đó là gì? Rõ ràng là gia đình Bloor, và Belle nữa, dĩ nhiên rồi. Nhưng gã Weedon, người làm vườn cũng là một kẻ rầy rà, không đáng tin cậy. Và bà giám thị, bà cô Lucretia của Charlie cũng rõ là kẻ thù. Những giáo viên còn lại thì sao? Thật khó đoán. Phải chi có ông cậu Paton để mà trò chuyện, nhưng Ông cậu vẫn biệt vô âm tín.
Charlie chưa kịp nghĩ cho ra đầu ra cuối thì buổi học đã hết, và thầy Pope đang quát om lên:
“Một bài học nữa vừa trôi qua trước mặt trò đấy, Charlie Bone. Ngay sáng thứ Hai tới sẽ có bài kiểm tra về những chiến dịch của Napoleon. Nếu trò không làm được hơn bảy mươi phần trăm thì trò sẽ bị cấm túc.
Quai hàm Charlie trễ xuống. Điều này có nghĩa là toàn bộ thời gian cuối tuần sẽ phung phí vô việc học thuộc những ngày tháng năm. Nó gom sách vở và âu sầu bước ra khỏi phòng học lịch sử.
Bọn trẻ khác cũng phải đối mặt với cùng một vấn đề. Tin tức về những bài kiểm tra nổi lên khắp nới. Rõ ràng các thầy cô đều đang trong cơn sốt kiểm tra. Có rất ít những gương mặt hoan hỉ trong bữa ăn tối hôm đó.
“Chắc tụi mình không tới được quán Cà Phê Thú Kiểng quá,” Gabriel nói, ngó lom lom một cách ủ dột vô món xúp của mình.
“Em không nghĩ vậy,” Charlie nói.
Billy chồm qua bàn:
“Em vẫn về nhà anh được chứ?” Nó khẩn khoản.
Charlie không có lòng dạ nào mà từ chối thằng bé.
“Dĩ nhiên. Em có thể kiểm tra ngày tháng năm giúp anh.”
Billy rạng rỡ:
“Nhất trí.”
Vào thứ Sáu, Charlie nghe tin về tiến triển trong công việc điêu khắc của Lysander. Nó và Emma bị cuốn vô dòng trẻ nít tất tả lao về những phòng ngủ chung để thu dọn túi xách như thường lệ. Bất chấp những bài kiểm tra đang treo trên đầu, tiếng rì rào vui sướng vẫn vỡ òa. Không ai còn chán nản khi trước mắt có tới hai ngày và ba đêm tự do, đáng mong đợi. Những cầu thang được bước hai bậc một, những hành lang tối rộn vang những bước chân cập rập cùng tiếng nói cười hớn hở.

“Tối qua mình trông thấy bức tượng rồi,” Emma thì thào với Charlie. “Tuyệt không thể chê được, y hệt như một cậu bé thật. Anh Lysander vừa bắt đầu sơn. Chỉ còn vài ngày nữa thôi là tất cả đã sẵn sàng.”
“Làm sao anh ấy giấu nó bí mật được?” Charlie hỏi.
“Ban ngày anh ấy chỉ việc phủ một tấm vải lên. Thầy Marson không bao giờ để ý tới. Thầy quá mải mê với tác phẩm điêu khắc của thầy rồi mà.”
“Belle ở khoa hội họa,” Charlie lo ngại.
“Không cần phải nhắc. Nhưng theo như mình biết thì nó chưa trông thấy bức tượng.”
Chúng rẽ ra ở một chân cầu thang khác, và Charlie đi kiếm Billy.
Đúng là Belle chưa trông thấy tác phẩm của Lysander, nhưng con nhỏ đã cảm giác được là có bức tượng. Đơn giản là nó đang chờ thời cơ thôi. Ngay khi tất cả bọn trẻ đã leo hết lên xe buýt trường, Belle đi vô phòng điêu khắc. Thầy Marson đang hí húi đẽo một tảng đá ở bên cửa sổ. Thầy thậm chí còn không trông thấy Belle. Nó bước tới tấm trải màu trắng, trùm kín cái gì đó có kích thước cỡ bằng người nó. Belle lật tấm vải ra. Một thằng bé đứng sựng ngay trước mặt nó. Không hẳn là một thằng bé, nhưng có cái gì đó giống đến nỗi khó tin đó không phải là người thật.
Thằng bé có mái tóc nâu, mắt xanh thẳm. Miệng hơi nhỏ và cái mũi cũng nhỏ, một cái mũi ưa tọc mạch. Thằng bé mặc áo chùng xanh da trời. Theo như Belle thấy, thì quần áo dưới áo chùng lại chưa được sơn. Giầy và quần là màu gỗ sáng.
“Ra thế,” Belle lẩm bẩm. “Trò chơi của bọn chúng đây.”
Charlie và Billy xuống xe buýt ở cuối đường Filbert. Rembrandt đã ngủ say dưới chiếc áo len của Billy, nhưng rõ ràng là nó đang gặp ác mộng. Thân hình nó cứ co giật và kêu chít chít trong khi ngủ. Billy đoán rằng con chuột đen bị tổn thương ghê gớm vì bị thầy Boldova khước từ.
“Em sẽ phải đền bù cho nó đấy , Billy,” Charlie nói. “Bây giờ em là người bạn thân thiết nhất của nó.”
Billy lộ vẻ ngạc nhiên lẫn vui mừng:
“Em cũng nghĩ thế.”
“Anh sợ là mẹ anh không biết em tới,” Charlie báo cho nó. “Mẹ anh đi làm suốt ngày thứ Bảy và mãi bốn giờ mới về nhà.”
“Không sao,” Billy vui sướng nói.
“Mẹ có để lại cho tụi mình nhiều đồ ăn.”
“Tốt. Em có thể cho Rembrandt một ít không?”
“Dĩ nhiên. Đừng để bà nội anh trông thấy nó. Bà căm ghét thú vật lắm. Chắc chắn bà sẽ giết nó đấy.”
“Ối,” Billy sợ hãi.
Còn khoản hai mươi bước nữa thì về tới nhà, Charlie chợt nhận thấy có một chiếc xe hơi đậu bên lề đường bên ngoài căn số 9. Nhìn màu xe thì có thể bảo nó là màu đen. Nhưng nhìn kỹ lại nó không phải đen. Chắc hẳn là nó màu xanh đậm, nhưng lại lấm đầy bùn với bụi tro… Hình như nó bị rỉ sét nữa? Hay là chiếc xe này đã bị nhấn chìm trong lửa? Thanh cản bị cong vẹo và kính chắn gió vỡ tan.
“Trông như xe từ địa ngục,” Billy nhận xét.
“Hoặc đã đi qua địa ngục,” Charlie nói. “ Nó là xe của Ông cậu anh đấy.”
Hai thằng bé phóng suốt con đường Filbert. Khi chúng tới căn số 9, Charlie lao huỳnh huỵch lên những bậc cấp và bươn vô nhà. Billy thận trọng theo sau.
“Không có ai ở nhà,” từ trong bếp, Charlie la lớn.
Billy nhìn Charlie băng qua hành lang và bắt đầu leo lên lầu.
“Em ở đây nha?” Billy rụt rè hỏi.

“Không. Không sao đâu. Lên đây đi.”
Charlie không muốn đi vô phòng Ông cậu một mình. Tấm biển XIN ĐỪNG QUẤY RẦY nằm chỏng chơ dưới đất, tay nắm bị vẹo cong gần như bẹp oặt lại, cứ như ai đó đã nắm rị lấy nó để tựa vô. Những dấu hiệu báo điềm gở đến nỗi Charlie không biết phải làm gì, nó nên gõ cửa hay cứ thế bước vô?
“Em thì em gõ cửa,” Billy khuyên.
Charlie gõ. Một lần. Hai lần. Ba lần.
Không có động tĩnh gì bên trong căn phòng.
Charlie nín thở, mở cửa và bước vô. Billy chỉ đặt một chân vô trong, và đứng chờ, tay nó nắm lấy con chuột đen.
Thứ đầu tiên mà Charlie nhìn thấy là cây gậy phép, nó nằm trên bàn viết của Ông cậu Paton. Chiếc gậy trước kia thanh mảnh, trắng ngà, giờ hầu như không thể nhận ra được, nhưng Charlie nhận ra nó nhờ kích thước và cái đầu bịt bạc bị lõm. Phần lớn còn lại của cây gậy bị cháy đen thành than và đen thui.
“ Chuyện gì xảy ra vậy?” Nó lẩm bẩm.
Rất chậm, nó quay đầu về phía chiếc giường và ở đó, Ông cậu của nó, toàn thân một màu đen, đang nằm sóng sượt bên trên tấm trải giường, ông cao đến nỗi đôi bàn chân trong đôi giày bám đầy tro của ông thõng ra ngoài.
Gương mặt bên dưới những vệt bồ hóng của Ông cậu Paton lại trắng bợt như người chết. Tệ hơn cả, mái tóc vốn đen nhánh giờ đã chuyển thành màu xám tro.
“ Ông ấy chết rồi hả?” Billy thì thào.
“Không.”
Charlie gằn giọng đáp, nhưng quả tình, nó cũng không chắc. Nó chạm vô vai Ông cậu. Không có phản ứng.
“Ông cậu Paton,” nó gọi nhỏ và rồi gấp gáp hơn, “Làm ơn đi, Ông cậu Paton, nếu có thể thì tỉnh dậy đi.”
CHUYẾN VIẾNG THĂM SKARPO
Mắt ông cậu Paton vẫn nhắm nghiền. Mặt ông tựa như đá tạc. Không một cơ bắp nào động đậy. Charlie ghé tai vô ngực ông và bắt được tiếng tim đập yếu ớt.
“Ông cậu còn sống. Nhưng đang ngủ rất sâu, “Charlie nói. “Tụi mình sẽ cần phải chờ cho tới khi Ông cậu thức dậy.”
Đó không hề là một giấc ngủ bình thường, nhưng cũng không giống như bị thôi miên. Chắc hẳn Ông cậu Paton đã tới Lâu đài Yewbeam. Nhưng câu chuyện khủng khiếp gì đã xảy ra với ông ở đó? Ông cậu Paton là người duy nhất trong nhà có thể chống lại nội Bone, Charlie rùng mình nghĩ cuộc đời sẽ ra sao nếu như Ông cậu nó không bao giờ tỉnh dậy nữa.
“ Tụi mình đi khỏi đây đi,” Charlie nói.
Billy đang đứng đờ người ra bên cạnh cửa, và Charlie nhận thấy cái đầu của Rembrandt thò ra khỏi vạt áo của Billy. Mũi con vật co giật dữ dội. Thình lình, nó chít một tiếng thật lớn và phóng xuống sàn.
“Bắt lấy nó!” Charlie thét.
Billy bật chạy ra, Charlie theo sau, đóng cửa phòng Ông cậu Paton lại sau lưng. Nó thấy Rembrandt chạy nháo nhào, dọc theo sát bức tường. Billy sắp đuổi kịp Rembrandt thì một cánh cửa bật mở ra ngay giữa nó và con chuột.
Nội Bone ra khỏi phòng riêng của bà và đứng lù lù trước mặt Billy.
“Ủa?” Bà nhướn đôi lông mày đen dài lên. “Charlie mang về nhà một anh bạn nhỏ à?”
Billy nheo mắt ngước nhìn nội Bone.
“Đó là Billy Raven, nội,” Charlie nói. “Nó ở lại đây vào cuối tuần.”
“Tao không mù. Tao cũng thấy nó là Billy Raven mà,” bà nội nói. “Tao mừng là mày đã phát huy được những giác quan của mày, Charlie. Billy là một thằng bé dễ thương. Một cải tiến tuyệt vời so với cái thằng Benjamin hôi hám kia, chứ đừng nói tới thằng Fidelio tầm thường và cái thằng Gabriel khó ưa.”
Charlie ghét bà nội nói về bạn bè nó như thế, nhưng nó đang lo sốt vó về con chuột đen nên chẳng có bụng dạ nào mà đôi co. Không hiểu sao, vì lý do gì đó, con Rembrandt dừng phắt lại ngay đằng sau nội Bone, và giờ đang ngồi nhỏng lên và theo dõi họ.
Billy không biết phải làm gì. Nó nhìn chòng chọc vô Rembrandt, miệng há hốc.
“ Tại sao mày nhìn hau háu vô giày của ta thế hả, thằng nhỏ kia? Nội Bone nói. “Nhìn vô mắt ta đây này. Ta có cắn đâu.”
Chưa ấy chứ, Charlie nghĩ.

Khi Billy rời mắt khỏi con chuột đen, Charlie thở phào khi thấy con chuột chạy xuống cầu thang.
“Nội…” Charlie mở miệng.
“Cái gì?” Nội Bone tì người qua thành cầu thang, nhưng con chuột đen đã biến mất.
“Giờ thế này, Billy,” bà nói. “Cái người hay nấu nướng trong nhà này đã đi nghỉ mát rồi.”
“Không phải,” Charlie cãi. “Nội à…”
“Im,” bà nạt. “Như ta đã nói, chúng ta không có người nấu nướng, nhưng ta sẽ cố hết sức để kiếm món gì đó hấp dẫn cho cháu. Charlie thì chỉ được xơi bánh mì và nước thôi, tại vì nó đã chôm mất món patê gan ngỗng của ta!”
Charlie chỉ lên phòng Ông cậu Paton và thét lên.
“Nội, bà không nhận thấy là Ông cậu Paton đang nằm như chết trên đó sao?”
“Tao hoàn toàn nhận thức được tình trạng của em trai tao,” bà tỉnh rụi. “Hắn xứng đáng nhận tất cả mọi thứ hắn đáng nhận. Nhúng mũi vô chuyện của người khác, đó là điều hắn đang làm. Hừ, lần này hắn đúng là nhai không được còn cắn cho to, đúng chưa? Cân sức nhé. Ha!Ha!”
Nội Bone phá ra cười khả ố và lướt xuống cầu thang.
“Tao đi kiếm một ít mận đây,” bà nói lớn và đội nón, mặc áo khoác, xong rời nhà.
“Em không thích mận,” Billy nói, nhăn mày vẻ sợ hãi.
“Em không việc gì phải ăn,” Charlie nói. “Thôi nào, đi coi xem có gì khá hơn không.”
Billy nghĩ chúng nên kiếm con Rembrandt trước đã, nhưng mặc dù đã kiếm khắp các phòng dưới lầu trệt, vẫn không thấy bóng dáng con chuột đâu cả.
“Chắc là nó cuộn mình ngủ ở đâu đó,” Charlie nói. “Anh tính cho mấy củ khoai tây vô lò nướng.”
Nó chưa kịp làm thì mẹ nó đã về nhà, với một đống cà rốt. Cô chẳng tỏ vẻ ngạc nhiên chút nào khi thấy thằng bé tóc trắng, nhỏ xíu ngồi bên bàn nhà bếp. Cô vốn đã quen với những chuyến tới chơi của Benjamin, và rất vui nếu Charlie có mời bạn về nhà vào cuối tuần. Cô đoán chắc là Ông cậu Paton đã trở về, vì cô nghe có những tiếng động lạ hồi khuya đêm hôm trước, nhưng cô không có thời gian để vô thăm ông trước khi cô đi làm.
“Ông cậu bệnh nặng lắm mẹ,” Charlie nói. “Bệnh rất, rất nặng. Tóc Ông cậu chuyển thành màu xám hết. Ông không nói được.”
“Trời đất, mẹ phải lên thăm Ông cậu coi sao.”
Cô Bone chạy ngay lên lầu. Vài phút sau, cô đi xuống, coi bộ rất lo âu.
“Để mẹ kêu bác sĩ tới. Bà nội con có biết Ông cậu bị như vầy không?”
“Bà nói đáng đời Ông cậu vì thói can thiệp vô công việc người khác,” Charlie nói với mẹ.
Cô Bone lắc đầu: “Cái gia đình đó thiệt hết sức.”
Trong khi Charlie chuẩn bị bữa tối, cô Amy Bone gọi điện cho bác sĩ. Cô nói chuyện trên điện thoại khá lâu để mô tả những triệu chứng của Ông cậu Paton. Thật không dễ dàng chút nào để giải thích rằng có một người qua một đêm tự nhiên hóa xám.
“Mẹ không nghĩ bác sĩ tin mẹ,” cô Bone vừa nói vừa đặt ống nghe xuống. “Nhưng ông ấy sẽ tới trong vòng một giờ nữa để khám cho Ông cậu.”
Đúng lúc đó, nội Bone trở về, với một bọc mận. Ngay khi nghe nói là đã kêu bác sĩ tới, bà nhấc điện thoại và hoãn cuộc hẹn lại.
“Sao mẹ lại làm thế?” Cô Bone sửng sốt. “ Ông cậu Paton cần bác sĩ.”
“Không cần,” nội Bone quặc lại. “Bác sĩ chẳng làm gì được hết. Chỉ tốn thời gian quý báu của ông ta thôi.”
“Quá đáng! Ông cậu là em trai của mẹ mà,” Cô Bone kêu lên. “Nếu lỡ… nếu lỡ ông chết thì khi đó mẹ cảm thấy như thế nào?”
“Ai mà chẳng chết… khi tới lúc,” nội Bone vừa nói vừa rửa mớ mận khô.
Theo dõi cuộc tranh cãi bằng con mắt trợn tròn, Billy kết luận rằng cuộc sống gia đình không phải hoàn toàn giống như người ta thường ca ngợi.
Bữa tối là một nhiệm vụ chẳng thoải mái chút nào. Chẳng màng tới thịt dăm bông và khoai tây, nội Bone từ đầu tới cuối cứ tì tì chén tô mận, không ngừng tạo nên những tiếng mút nhai kinh khủng.


Truyện đánh dấu

Nhấn để xem...

Truyện đang đọc

Nhấn để xem...
Nhấn Mở Bình Luận